Khái quát chung về hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác

Thứ Năm, 26/11/2015, 13:22 GMT+7

Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác 

Khái niệm về xuất nhập khẩu uỷ thác giữa các pháp nhân trong nướcđã được bộ thương mại quy định cụ thể trong Thông tư số18/TT – BTM của Bộ trưởng Bộ thương mại ký ngày 28/8/1998 ban hành qui chế xuất nhập khẩu uỷ thác giữa các pháp nhân trong nước như sau:

Xuất nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dich vụ thương mại dưới hình thức thuê và nhận làm dịch vụ xuất nhập khẩu hoạt động này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng uỷ thác xuất khẩu hoặc nhập khẩu giữa các doanh nghiệp, phù hợp với những qui định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế.

Nội dung và đặc điểm của hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác

Về chủ thể:

Chủ thể uỷ thác xuất khẩu , nhập khẩu:

Tất cả các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh trong nước và hoặc giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đều được uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu.

Chủ thể nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu:

Tất cả các doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh xuất khẩu đều được phép nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu.

Điều kiện của chủ thể xuất nhập khẩu uỷ thác:

Đối với bên uỷ thác:

Có giấy phép kinh doanh trong nước và hoặc có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.

Khái quát chung về hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác

Có hạn ngạch hoặc có chỉ tiêu xuất khẩu, nhập khẩu, nếu uỷ thác xuất nhập khẩu những hàng hoá thuộc hạn ngạch hoặc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước đã duyệt đối với các mặt hàng có liên quan đến cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân. Trường hợp cần thiết Bộ thương mại có văn bản cho doanh nghiệp được xuất khẩu, nhập khẩu uỷ thác theo hạn ngạch hoặc có chỉ tiêu kế hoạch đã giao cho bên nhận uỷ thác.

Được cơ quan chuyên ngành đồng ý bằng văn bản đối với những mặt hàng XNK chuyên ngành.

Có khả năng thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu uỷ thác.

Đối với bên nhận uỷ thác:

Có giấy phép kinhh doanh xuất nhập khẩu.

Có ngành hàng phù hợp với hàng hoá xuất nhập khẩu uỷ thác.

Phạm vi hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác.

Uỷ thác và nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu những mặt hàng không thuộc diện Nhà nước cấm xuất khẩu , cấm nhập khẩu.

Bên uỷ thác chỉ được uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu những mặt hàng nằm trong phạm vi kinh doanh đã được quy định trong giấy phép kinh doanh trong nước, hoặc trong giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu.

Nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên.

Bên nhận uỷ thác phải cung cấp cho bên uỷ thác các thông tin về thị trường giá cả khách hàng có liên quan đến đơn hàng uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu. Bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác thương lượng và ký kết hợp đồng uỷ thác. Quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của hai bên do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng uỷ thác.

Bên uỷ thác thanh toán cho bên nhận uỷ thác và các khoản phí tổng phát sinh khi thực hiện uỷ thác.

Các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của hợp đồng uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu do các bên tham gia đã ký kết. Vi phạm những quy định trong hợp đồng tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật và các quy định hiện hành.

Mọi tranh chấp giữa các bên ký kết hợp sẽ do các bên thương lượng hoà giải để giải quyết, nếu thương lượng không đi đến kết quả thì sẽ đưa ra Toà kinh tế, phán quyết của toà án là kết luận cuối cùng bắt buộc các bên phải thì hành.

Nhìn chung, trước năm 1989 hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác ít được mọi người chú ý quan tâm đến, nhưng ngày nay trong điều kiện mở cửa cộng với sự chuyên môn hoá trong lĩnh vực ngoại thương nên hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác đang đươc Nhà nước quan tâm chú ý đến, biểu hiện là những văn bản pháp luật như pháp lệnh về hợp đồng kinh tế, nghị định 57/CP của Chính phủ về quản lý Nhà nước đối với xuất nhập khẩu, hơn nữa còn có Thông tư của Bộ trưởng Bộ Thương mại số 18/1998/TT – BTM ban hành riêng về việc điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác.

Cho đến ngày nay hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác phát triển mạnh mẽ và không ngừng tăng lên kể từ năm 1990 đến nay và nó được thể hiện thông qua các con số về phí thu uỷ thác xuất nhập khẩu của một số các công ty xuất nhập khẩu như sau (thường là phí xuất nhập khẩu uỷ thác mà các công ty thu được là 0,5 – 2% trên tổng giá trị hợp đồng).

Các văn bản của Nhà nước điều chỉnh hoạt động XNK uỷ thác.

Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế của Hội đồng Bộ trưởng ký ngày 25/9/1989 và Nghị định số 17/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 16/1/1990.

Về hợp đồng xuất nhập khẩu uỷ thác cũng là một loại hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các pháp nhân trong nước với nhau nhằm trao đổi hành hoá với sự quy định rõ ràng của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình. Cho nên hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác được thực hiện trên cơ sở sự tuân thủ những quy định về ký kết hợp đồng kinh tế , tuân thủ về mặt hình thức và nội dung của một hợp đồng kinh tế. Tuân thủ những quy định về việc thực hiện thay đổi, thanh lý một hợp đồng kinh tế. Các bên ký kết cũng phải có trách nhiệm do vi phạm hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu theo như trách nhiệm của các bên được quy định trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế.

Tóm lại, một hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác phải dựa trên cơ sở tuân thủ các quy định trong pháp lệnh về hợp đồng kinh tế. Ngoài ra, nó còn phải dựa trên căn cứ theo Nghị định số 57/CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ về quản lý nhà nước đối với xuất nhập khẩu. Và hoạt động uỷ thác xuất nhập khẩu còn cần phải căn cứ vào thông tư của Bộ trưởng Bộ Thương mại số 18/1998/NĐ - CP, ngày 31/7/1998, ban hành quy chế xuất nhập khẩu uỷ thác giữa các pháp nhân trong nước, trong đó quy định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể về hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác giữa các pháp nhân trong nước.

Tags: Hàng nhập ủy thác
NhapKhauUyThac.com / Hàng nhập ủy thác
Tags: Hàng nhập ủy thác
NhapKhauUyThac.com / Hàng nhập ủy thác